Monday, May 18, 2020

BÁCH THIỆN HIẾU VI TIÊN - VẠN ÁC DÂM VI THỦ 百善孝为先,万恶淫为源

Nền văn hóa truyền thống được truyền thừa suốt mấy ngàn năm lịch sử đã lưu lại cho người đời sau rất nhiều trí tuệ, đó là những đạo lý nhân sinh để lại cho hậu thế. Có một câu tục ngữ không chỉ hàm chứa đạo lý, mà còn là lời cảnh tỉnh mà người xưa để lại cho đời sau: “Bách thiện hiếu vi tiên, vạn ác dâm vi thủ”, trong trăm cái thiện thì hiếu thảo là việc tốt đẹp nhất, trong vạn cái ác thì tà dâm là chuyện đồi bại nhất.
Bài hát "Ba Mẹ" cảm động về sự hiếu thuận - cực hay

Bách thiện hiếu vi tiên - 百善顺为先

“Hiếu kinh” viết rằng: “Hiếu là kinh của trời, là nghĩa của đất và là đạo hạnh của con người”. “Hiếu” là lẽ thường của thiên đạo xoay chuyển, là cái lý của đất nâng đỡ vạn vật, là đức hạnh mà con người nhất định phải thực hành.

Thư Pháp Ngọc Tú - 26 Vạn Phúc - Ba Đình - Hà Nội

Cha mẹ yêu thương con cái vừa là thiên tính vừa là nghĩa vụ, con cái hiếu kính cha mẹ là trách nhiệm, cũng là đạo làm người phải có. Một người nếu không có lòng hiếu thảo đối với cha mẹ, người đã sinh ra và nuôi dưỡng mình, thì sẽ không có khả năng yêu thương người khác thực sự, càng không thể có tâm để ý tới sự hưng suy của xã hội, quốc gia. Bởi vậy mới nói “Bách thiện hiếu vi tiên”, cái gốc của sự thiện lương nằm ở chữ Hiếu.

Suốt mấy ngàn năm lịch sử, văn hóa truyền thống luôn đề cao lòng hiếu thảo của con người. Phàm là người hiếu kính với cha mẹ đều được mọi người tôn sùng, kính trọng và tán dương. Trong xã hội xưa, từ Thiên tử đến thần dân đều phải tận sức làm tròn bổn phận hiếu kính của người con đối với cha mẹ mình.

Sử sách ghi lại rất nhiều tấm gương hiếu đạo của người xưa, khiến chúng ta đọc lên phải tự thấy không bằng.
Vào triều đại nhà Thanh, ở cửa nam của huyện Vĩnh Thanh có một người ăn mày tên là Tiểu Trương. Mọi người thường gọi cậu là Trương ăn mày. Tiểu Trương sinh ra trong một gia đình bần cùng, cha mất sớm, mẹ mù lòa. Từ sau khi cha mất, Tiểu Trương đành phải dựa vào ăn xin để nuôi mẹ. Hai mẹ con họ không có nhà để ở nên đã trú tạm tại một ngôi miếu cổ cũ nát trong làng.

Một ngày nọ, tuyết rơi phủ trắng mặt đất. Quan tri huyện là Ngụy Kế Tề tình cờ đi qua ngôi miếu cổ cũ nát kia và nghe thấy tiếng hát từ bên trong truyền ra. Âm điệu tuy không phải là tuyệt hay, đặc sắc nhưng lại rất tình cảm, vui tươi và cảm động lòng người. Vị quan tri huyện liền tiến lại xem thì nhìn thấy một tên ăn mày đang cầm một chén rượu, quỳ gối dâng lên trước mặt một bà lão. Tên ăn mày vừa gõ vào bát, vừa cất lời hát, bà lão nở nụ cười ấm ấp.

Tiểu Trương nhìn thấy vị quan huyện đang ngó xem thì có chút giật mình, sau lại đáp rằng: “Thưa ngài, kẻ hèn mua vui cho mẹ.”

Ngụy Kế Tề nghe xong, cảm khái nói: “Ta sống đến từng này tuổi rồi mà còn chưa từng làm trò tiêu khiển cho mẹ vui như tên ăn mày này!” Về sau, ông cũng đem chuyện này kể lại cho mọi người, ai nấy đều cảm động trong lòng và lấy đó làm bài học cho mình.

Vạn ác dâm vi thủ

Người xưa cho rằng trong vạn việc ác thì tà dâm là việc ác đứng đầu và cũng là việc ác phải chịu quả báo nặng nề nhất, bởi vì căn nguyên của vạn cái ác trong thế gian không ngoài nguyên do xa hoa dâm đãng.


Người thời nay, nhất là giới trẻ, dù ít dù nhiều đều thường có tâm háo sắc phóng túng. Cổ nhân còn có một câu nói: “Sắc tự đầu thượng nhất bả đao”, trong Hán tự thì trên đầu chữ sắc là một cây đao. Một người bị sắc dục ảnh hưởng thì nhất định không có khả năng tự hạn chế, cuộc đời người ấy cũng sẽ dần dần xuất hiện lệch lạc, thậm chí làm nguy hại xã hội, tạo ra sự rối loạn và bất an cho xã hội. Trái lại, người không bị sắc dục chi phối thường là một người lương thiện, bởi họ đối với bản thân tự nhiên cũng có yêu cầu nghiêm khắc hơn, tự ràng buộc được mình, phẩm cách của họ cũng cao thượng hơn.

Người không thể khống chế được ham muốn dục vọng của bản thân thì thuận theo đó những dục vọng không tốt khác cũng liền đến, hơn nữa vĩnh viễn không thỏa mãn được. Người ấy cũng sẽ thiếu đi liêm sỉ, không biết xấu hổ. Nếu không thể dừng lại thì cuối cùng người ấy sẽ tạo ra những ác nghiệp không thể vãn hồi.


Trong lịch sử có rất nhiều câu chuyện kể về kết cục của việc dâm dục. Cuốn “Khoa danh khuyến giới lục” ghi chép rằng:


Bùi Chương là người ở Hà Đông, Sơn Tây. Cha của Bùi Chương là bạn thân thiết của Đàm Chiếu pháp sư. Pháp sư Đàm Chiếu là người tinh thông tướng thuật. Ông xem tướng Bùi Chương, thiên đình đầy đặn, địa các tròn trịa, công danh sự nghiệp trong tương lai nhất định có thành tựu lớn.


Năm Bùi Chương 20 tuổi, anh ta lấy vợ tên là Lý Thị. Năm sau, Bùi Chương đến Thái Nguyên làm quan còn người vợ ở nhà. Mấy năm sau, Bùi Chương gặp lại pháp sư Đàm Chiếu, ông hết sức kinh ngạc nói: “Mấy năm trước, ta nhìn cậu có tướng hiển quý sao bây giờ lại đổi khác như vậy? Thiên đình đầy đặn của cậu trước đây sao bây giờ lại hõm vào như vậy? Địa các vốn tròn trịa sao bây giờ lại nhọn như vậy? Hơn nữa, lòng bàn tay còn có vùng khí đen, e rằng sẽ gặp họa, cậu nên đề phòng. Tướng của cậu trở nên như vậy, không biết là cậu đã làm việc thiếu đạo đức gì?“

Bùi Chương nghe xong liền ngẫm nghĩ lại những việc làm của mình mấy năm qua. Nghĩ đi nghĩ lại, Bùi Chương chỉ thấy duy nhất một việc trái với luân thường đạo lý là đã có hành vi dâm dục với một người phụ nữ ở Thái Nguyên, còn lại không làm việc gì thất đức cả.

Pháp sư Đàm Chiếu thở dài một hơi rồi nói: “Cậu vốn có tiền đồ rạng rỡ, vậy mà lại không biết trân quý mà cùng người phụ nữ khác hành dâm. Cậu đúng là đã tự hủy hoại phúc đức của mình, thật là quá đáng tiếc!“

Ít lâu sau, đúng như lời pháp sư nói, tai họa ập xuống Bùi Chương. Lúc anh ta đang tắm rửa thì bị người lẻn vào hành thích, con dao đâm trúng vào bụng mà chết. Không ai biết nguyên nhân khiến Bùi Chương bị đâm chết.
Nguồn: trithucvn.net
---------------------------------------------------------
Vào khoảng cuối đời Minh, có một người họ Điền, phong lưu tuấn tú, phụ nữ theo ve vãn muốn gần gũi ông rất nhiều. Họ Điền trong lòng tự biết là sai trái, chỉ có điều không tự giữ mình được.
Một hôm, ông đến đọc sách ở chùa Nam Sơn, có một vị thần ngay giữa ban ngày hiện ra nói với ông: “Nhà ngươi có phúc lớn, chỉ vì chuyện ong bướm đa tình mà hao tổn hết sạch rồi. Từ nay nếu biết ăn năn sửa lỗi, may ra có thể sẽ được đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức ngự sử.”
Họ Điền từ đó nỗ lực tu tỉnh sám hối, về sau quả được như lời thần nói.
Lời bàn: Sách Giải thoát yếu môn dạy rằng: “Nếu muốn sám hối nghiệp dâm dục đã tạo, nên quán chiếu nữ căn [âm đạo người nữ] như miệng rắn độc, tội cũ tự nhiên tiêu diệt.” Người đã phạm vào tội dâm dục, không thể không biết điều này.
LƯU NGHIÊU CỬ
Lưu Nghiêu Cử là người ở Long Thư, thuê một chiếc thuyền đi lên tỉnh thành dự kỳ thi Hương. Trên đường đi đùa cợt trêu chọc người con gái của chủ thuyền, nên ông này lưu tâm đề phòng rất kỹ.
Đến khi Nghiêu Cử đã vào dự thi, chủ thuyền thấy trường thi cửa đóng then cài nhiều lớp, canh phòng hết sức nghiêm mật, nên cho rằng chẳng có gì phải lo nữa, liền vào trong phố chợ chơi một thời gian rất lâu. Không ngờ đề thi thuộc phạm vi Nghiêu Cử đã học kỹ nên anh ta làm xong và trở về thuyền rất sớm, liền [nhân cơ hội ấy] tư thông với đứa con gái chủ thuyền.
Khi ấy, ở quê nhà cha mẹ Lưu Nghiêu Cử đều nằm mộng thấy một người áo vàng mang bảng danh sách đến, báo tin Lưu Nghiêu Cử đỗ đầu. Họ vội vã chạy đến bên định xem bảng, bỗng có một người giật bảng lại, nói: “Họ Lưu gần đây làm điều gian dối, đã bị tước bỏ tư cách dự thi.” Hai người tỉnh dậy kể lại giấc mộng giống nhau, do đó đều sinh lòng lo lắng. 
Không bao lâu đến lúc chấm quyển thi, Lưu Nghiêu Cử vì phạm quy nên bị tước bỏ tư cách thi, các quan chấm thi đều tiếc cho văn chương của ông.
Lúc về nhà, cha mẹ Lưu Nghiêu Cử đem chuyện trong mộng kể lại và cật vấn, Nghiêu Cử lặng thinh không dám nói lời nào.
Kỳ thi sau, Nghiêu Cử cuối cùng cũng đỗ được cử nhân, nhưng vĩnh viễn không đỗ được tiến sĩ.
Lời bàn: Ham vui chốc lát trên thuyền mà vĩnh viễn không được thi đỗ tiến sĩ, thật không còn gì ngu xuẩn hơn!
LÂM MẬU TIÊN
Lâm Mậu Tiên là người Tín Châu, học hành chăm chỉ, hằng ngày đóng cửa đọc sách. Sau khi thi Hương đỗ cử nhân, hàng xóm có một nhà rất giàu, người vợ chê ông chồng thất học, ngưỡng mộ tài danh của Lâm Mậu Tiên, chủ động tìm dịp sang nhà, muốn dan díu với ông. Lâm Mậu Tiên nói: “Nam nữ có sự phân biệt, [cô làm như thế] lễ giáo không cho phép. Quỷ thần trong trời đất đầy khắp quanh đây, sao cô có thể làm vấy bẩn [sự trong sạch] tôi.” Người phụ nữ kia xấu hổ ra về.
Kỳ thi sau đó, Lâm Mậu Tiên đỗ tiến sĩ. Ông có ba người con, về sau cũng đều đỗ tiến sĩ.
LA LUÂN
La Luân khi trên đường dự kỳ thi Hội, thuyền dừng lại nghỉ ở bến Cô Tô, đêm ấy mộng thấy Phạm Văn Chính Công [1] đến chào hỏi, rồi nói rằng: “Danh hiệu trạng nguyên năm tới đã thuộc về ông rồi.” Họ La khiêm nhường không dám nhận, Phạm Văn Chính Công liền nói: “Sự việc vào năm ấy, nơi lầu ấy, đã thấu đến lòng trời.” 
Họ La [khi tỉnh dậy] nhân câu nói đó liền nhớ lại năm xưa nơi lầu ấy quả thật đã từng cự tuyệt với một cô gái muốn cùng ông dan díu. Vì thế nên ông tin rằng giấc mộng này chẳng phải hư vọng. Đến kỳ thi Đình năm sau quả nhiên ông đỗ trạng nguyên.
Lời bàn: Ở những nơi khuất tất không ai nhìn thấy, con mắt theo dõi của quỷ thần vẫn sáng như điện. Cho nên, người quân tử luôn phải thận trọng ngay cả những khi ở một mình không ai biết đến.
______
[1] Tức Phạm Trọng Yêm (989-1052) tên tự là Hy Văn, tên thụy là Văn Chính.
NGƯỜI NHO SINH Ở PHỤNG DƯƠNG
Huyện Phụng Dương có nho sinh nọ, nhà có một cái hồ nhỏ trồng sen nhưng đã nhiều năm không nở hoa. Vào năm Kỷ Dậu thuộc niên hiệu Khang Hy (1669), nho sinh này sắp đi đến Cú Khúc để tham dự kỳ thi lục di thì trong hồ bỗng nhiên trổ lên một cành sen tuyệt đẹp. Cha mẹ anh ta thấy vậy hết sức vui mừng, cho rằng đó là điềm báo tốt lành cho kỳ thi Hương sắp tới, liền quyết định sáng sớm hôm sau bày tiệc rượu ven bờ hồ để thưởng ngoạn.
Đêm hôm đó, vợ chồng nho sinh này đang cùng nhau vui vẻ, trong nhà có đứa tỳ nữ đi ngang qua, nho sinh buông lời đùa cợt trêu ghẹo, người vợ cũng không ngăn cản gì, cuối cùng đêm ấy anh liền cùng đứa tỳ nữ dan díu.
Sáng hôm sau ra xem thì cành hoa sen đã bị bẻ mất rồi. Cha mẹ nho sinh hết sức kinh sợ, tra hỏi mới biết chính là đứa tỳ nữ kia đã bẻ cành sen, hai người hết sức buồn rầu vì việc ấy.
Ngay đêm hôm đó, người nho sinh nằm mộng thấy mình được đến bái kiến Văn Xương Đế Quân, thấy tên mình đã ghi trên bảng những người thi đỗ, bỗng Đế Quân bước đến gạch xóa đi. Anh ta liền khóc lóc quỳ lạy hết lời cầu xin, van xin đến lần thứ ba thì bị đuổi ra.
Tỉnh dậy, nho sinh này tự biết đó là điềm chẳng lành, lên đường đi thi mà trong lòng hết sức buồn bực không vui. Thông thường, kỳ thi lục di ở phủ tuyển lấy ba người, mà về Cú Khúc dự thi năm ấy cũng chỉ có ba người, nhưng duy nhất chỉ có nho sinh này bị đánh rớt. Anh ta dự thi tiếp tục ba lần, cho đến lần cuối cùng kết quả vẫn như vậy, đành gạt lệ quay về.
Lời bàn: Giá như người vợ của nho sinh kia cứng rắn ngăn cản, ắt người chồng sẽ giận ghét, nhưng biết đâu nhờ vậy mà trong chốn u minh vẫn bảo toàn được công danh khoa cử cho chồng. Thuở xưa, người mẹ của Thúc Hướng [2] vì nghe lời con can gián, muốn tránh tiếng xấu ghen hờn nhưng rồi lại khiến cho họ Dương Thiệt gặp nạn. Cho nên, chuyện ghen hờn của người vợ, đâu thể một lời mà nói hết? 
______
[2] Thúc Hướng sinh vào thời Xuân Thu. Ông tên Hật, tự Thúc Hướng, được phong ở đất Dương nên lấy Dương Thiệt làm họ. Cha Thúc Hướng có người vợ lẽ, mẹ ông vì ghen hờn nên cản trở không cho gặp cha ông. Thúc Hướng khuyên can vì sợ bà mang tiếng xấu là người ghen hờn. Bà nghe theo, do đó người vợ lẽ kia mới có cơ hội sinh ra Thúc Hổ, về sau gây nạn Loan Doanh khiến họ Dương Thiệt tan nát, bản thân Thúc Hướng cũng bị giam vào ngục.
HAI ANH EM Ở NAM XƯƠNG
Ở Nam Xương có hai anh em sinh đôi, giống nhau như đúc, từ hình dạng cho đến giọng nói, nên ngay cả cha mẹ họ cũng khó phân biệt, phải dùng y phục khác biệt để nhận biết. Lớn lên lại cưới vợ cùng lúc, vào trường học cũng cùng lúc, cho đến những chuyện nên hư được mất của hai người, hầu như cũng đều tương tự như nhau.
Đến ngày hai người đi dự thi, lại cùng ở trọ chung một nhà. Có cô gái ở gần nhà ấy có ý trêu chọc người anh, anh ta liền cự tuyệt, lại răn nhắc người em phải đề phòng. Người em giả vờ vâng dạ, nhưng lại lén lút giả danh người anh đến gặp cô gái kia, lại có lời ước hẹn sau khi thi đỗ sẽ đến cưới.
Đến khi yết bảng, người anh đỗ, người em rớt. Cô gái kia không phân biệt được hai người, tưởng rằng người thi đỗ là người đã dan díu với mình nên trong lòng hết sức mừng vui, còn lo tiền đưa cho anh ta làm lộ phí đi đường về quê.
Mùa xuân năm sau, người anh lại thi đỗ tiếp tiến sĩ. Cô gái kia nghe tin mừng rỡ, lo chuẩn bị hành trang đợi người ấy đến cưới. Trông đợi hoài chẳng thấy tin tức gì, cuối cùng ôm hận mà chết.
Về sau, người anh được sống thọ, con cháu đều vinh hiển. Còn người em đã chết sớm lại không con nối dõi.
Lời bàn: Tướng mạng tốt xấu của con người đều do tâm thức trong đời trước tạo thành. Đời trước làm lành, ắt khi vào thai tự nhiên có đủ tướng tốt, lúc sinh ra đời cũng nhằm giờ tốt. Đời trước nếu làm ác, ắt kết quả đời này ngược lại. Chuyện tướng mạng tốt xấu vì thế không thể bác bỏ được. Tuy nhiên, tướng mạng tốt xấu khi đã sinh ra rồi thì cố định, nhưng tâm người lại không cố định. Cho nên những điều tai họa hay phước lành đều do tâm tạo ra chứ không do tướng mạng tạo ra. Chuyện tướng mạng tốt xấu vì thế không thể xem là tuyệt đối. Cứ xét như việc của hai anh em ở Nam Xương [tướng mạng giống nhau mà kết quả cuộc đời khác nhau] thì có thể hiểu ra được lẽ này.
(Trích AN SĨ TOÀN THƯ, Phần III-Khuyên Người Bỏ Sự Tham Dục, soạn giả Chu An Sĩ, dịch giả Nguyễn Minh Tiến)

No comments:

Post a Comment